| Trong vòng 20 năm cuối thế kỷ 20 ngành cà phê Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về diện tích, năng suất, tổng sản lượng và lượng cà phê xuất khẩu. Nếu năm 1980, cả nước chỉ có 22.500 ha, trong đó diện tích ở thời kỳ sản xuất có 10.800 ha, sản lượng chỉ đạt 8.400 tấn (năng suất 0,78 tấn/ha) thì 20 năm sau, năm 2000, năm cuối của Thiên niên kỷ, cả nước đã có 533.000 ha, trong đó diện tích sản xuất có 385.000 ha với sản lượng 720.000 tấn (năng suất 1,87 tấn/ha) và xuất khẩu được 705.300 tấn.
Niên vụ 2008 – 2009, Việt Nam xuất khẩu hơn một triệu tấn cà-phê, đạt kim ngạch 1,8 tỷ USD. Cả năm 2009, Việt Nam xuất khẩu 1,18 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,73 tỷ USD (tăng 11,71% sản lượng nhưng giảm 18,03% về trị giá so với năm 2008). Nguyên nhân giá cà-phê xuất khẩu giảm do giá cà-phê xuống thấp, lượng cà-phê xuất khẩu của các quốc gia lại tăng thêm khoảng 3% so với năm trước.
Trong khi đó, ngành cà-phê trong nước vẫn chưa có chiến lược chủ động trong khâu tiêu thụ sản phẩm nên chưa thể điều tiết giá cả. Việc xuất khẩu vẫn chưa có sự điều hành thống nhất, doanh nghiệp xuất khẩu ồ ạt vào đầu vụ nên không giữ được giá khiến người trồng phải chịu thiệt.
Hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu cà phê trong những năm qua đã có tác dụng tích cực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển ngành cà phê Việt Nam, đã góp phần quan trọng vào tốc độ phát triển chung của nền kinh tế. Nhưng trong sự phát triển tự phát, ào ạt của ngành cà phê vừa qua đã chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của ngành cà phê Việt Nam
Thêm vào đó, các đơn vị xuất khẩu không dự báo chính xác nhu cầu của thị trường, chiều hướng biến động giá, cũng không chủ động được nguồn hàng, vốn thu mua, thường xảy ra tình trạng cạnh tranh, ép giá, chiếm dụng vốn lẫn nhau. Các cơ quan quản lý nhà nước thì không kiểm soát được thị trường. Ngoài ra, hiện nay đang nổi lên việc buôn bán cà phê qua mạng, giao dịch trên thị trường London (LIFFE), New York (NYBOT) thông qua những nhà môi giới mà người ta gọi là buôn bán "hàng giấy", dùng giao dịch kỳ hạn không phải như một công cụ phòng chống rủi ro. Điều này dẫn đến sự thiếu lành mạnh trong kinh doanh, khiến cho thị trường cà phê càng thêm phức tạp, khó quản lý, kiểm soát.
Thành lập thị trường mua bán tương lai là một bước tiến rất quan trọng để đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tương lai ở Việt Nam, có một trung tâm chính thức điều hành mọi hoạt động từ thu mua đến làm trung gian thực hiện việc thanh toán hàng ngày và đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi bên hợp đồng. Các doanh nghiệp Việt Nam khi đó sẽ được nâng lên một vị thế mới nên có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tham gia thực hiện hợp đồng tương lai với đối tác nước ngoài.
Tình hình sản xuất
Trong 20 năm trở lại đây ngành cà phê Việt Nam phát triển vượt bậc, sản lượng tăng hàng chục lần, là mặt hàng xuất khẩu đứng vị trí thứ hai, sau gạo trong danh mục hàng nông sản xuất khẩu, với kim ngạch đạt gần 2 tỷ USD. Trên thế giới, cà phê Việt Nam đứng vị trí số 2 về khối lượng, sau Brazil. Ngành cà phê đã thu hút trên 300.000 hộ gia đình, với trên 700.000 lao động chuyên nghiệp, chiếm khoảng
Hiện nay nước ta có khoảng 550 nghìn hécta đất trồng cà phê (trong đó Tây Nguyên chiếm tới 80% diện tích đất trồng và 90% sản lượng) với năng suất gần 1,7 tấn/ha, sản lượng bình quân mỗi năm trên 1 triệu tấn. Sản phẩm chủ yếu là cà phê nhân xuất khẩu, cà phê rang xay và cà phê hoà tan. Cà phê xuất khẩu chiếm tới 90% cà phê của cả nước. Tuy nhiên sản xuất cà phê của Việt Nam vẫn ở trong quy mô nhỏ lẻ. Phát triển có tính tự phát, phân tán, không có quy hoạch dài hạn cũng như ngắn hạn, 80% sản lượng là của hộ gia đình, 10% là của chủ trang trại và 10% của các nông trường quốc doanh. Diện tích mỗi hộ trong khoảng từ 3-5ha, mỗi trang trại 30-50ha. Trong những năm cuối cùng của thế kỷ XX, do sự kích thích về giá, sản xuất vượt ra ngoài sự kiểm soát của nhà nước, đưa sản lượng cà phê Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung lên cao, vượt quá nhu cầu tiêu thụ, tạo nên khủng hoảng thừa, đẩy giá sút giảm liên tục, giảm đến mức thấp kỷ lục. Nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thế giới thiên về cà phê chè (Arabica), trong khi cây cà phê của ta chủ yếu là cà phê vối (Robusta). Từ đó, cho thấy ngành cà phê của ta đang trong tình trạng thiếu sự quản lý chỉ đạo thống nhất từ giống, kỹ thuật thâm canh và chế biến dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, giá thành hạ.
Tình hình xuất khẩu
Việt Nam xuất khẩu cà phê đến 88 quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng thứ 2 thế giới. Nếu như năm 2008, Hoa Kỳ - thị trường giữ vị trí quán quân về thị trường xuất khẩu cà phê của ViệtNam, thì sang năm 2009 đã nhường vị trí này cho thị trường Đức và đứng thứ 2 về thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam. Theo báo cáo ngày 1/9/2009 của Tổ chức cà phê thế giới (ICO) có tới 75% cà phê Việt Nam không đạt chuẩn CQP (Coffee Quanlity Improbement Program). Điều này ảnh hưởng đến uy tín của cà phê Việt Nam và dễ bị người mua dìm giá.
Theo số liệu thống kê, cả năm 2009, xuất khẩu cà phê sẽ đạt 1,18 triệu tấn, với kim ngạch khoảng 1,73 tỷ USD. So với năm 2008, xuất khẩu cà phê năm 2009 tăng 11,71% về lượng nhưng giảm 18,03% về giá trị do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Những thị trường xuất khẩu cà phê năm 2009 đạt kim ngạch trên 10 triệu USD
| Thị trường |
Lượng (Tấn) |
Trị giá (USD) |
| Đức |
136.248 |
201.768.433 |
| Hoa Kỳ |
128.050 |
196.674.152 |
| Bỉ |
132.283 |
190.495.368 |
| Italia |
96.190 |
142.365.709 |
| Tây Ban Nha |
81.617 |
118.020.895 |
| Nhật Bản |
57.450 |
90.312.416 |
| Hà Lan |
32.608 |
46.795.583 |
| Hàn Quốc |
31.684 |
46.399.869 |
| Anh |
30.918 |
44.162.090 |
| Thuỵ Sĩ |
28.478 |
41.017.518 |
| Pháp |
25.886 |
37.827.448 |
| Philippin |
21.547 |
29.851.371 |
| Malaysia |
19.245 |
28.571.952 |
| Trung Quốc |
17.396 |
24.885.623 |
| Ấn Độ |
16.438 |
22.505.252 |
| Nga |
15.561 |
22.003.706 |
| Singapore |
13.467 |
19.768.665 |
| Indonesia |
12.431 |
17.190.384 |
| Ôxtrâylia |
11.281 |
16.424.338 |
| Ba Lan |
10.965 |
15.535.621 |
| CH Nam Phi |
8.976 |
12.843.856 |
| Mêhicô |
9.266 |
12.724.469 |
|